Chủ đề mới
Home / Đời sống / Sớm biết dấu hiệu viêm phổi để giúp bạn thoát bệnh

Sớm biết dấu hiệu viêm phổi để giúp bạn thoát bệnh

Ho có đờm hoặc ho khan: Tùy thuộc vào loại viêm phổi và các yếu tố khác mà cơn ho sẽ là ho khan hay ho có đờm. Những người bị viêm phổi do vi khuẩn thường sẽ bị ho có đờm và đờm cũng sẽ đặc hơn. (nguồn: Thanh Niên)

Ngược lại, viêm phổi do vi rút thường có ít đờm hơn. Thậm chí, những người có hệ miễn dịch kém, cơ thể sẽ ít phản ứng với bệnh hơn và cơn ho có thể không có đờm.

Sốt: Cơn ho kèm theo sốt là dấu hiệu thường gặp của viêm phổi do vi khuẩn lẫn vi rút. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp là viêm phổi nhưng không xuất hiện sốt.

Ngoài ra, đôi khi hạ thân nhiệt lại là dấu hiệu của viêm phổi do vi khuẩn, các chuyên gia sức khỏe cho biết.

Run: Những cơn ớn lạnh, run, thậm chí là răng “đánh bò cạp” là biểu hiện của viêm phổi. Triệu chứng này có thể xuất hiện rất nhanh. Những cơn run, ớn lạnh thường kèm theo sốt. Đây là dấu hiệu của tình trạng vi khuẩn phát triển nhiều trong máu.

Thở dốc: Viêm phổi có thể khiến người mắc cảm thấy khó thở. Vì khó thở nên người bệnh sẽ tăng nhịp thở để có đủ ô xy cung cấp cho cơ thể, dẫn đến cảm giác hụt hơi, thở dốc. Nếu viêm phổi bắt đầu ảnh hưởng đến chức năng phổi thì máu có thể không được cung cấp đủ oxy. Trong trường hợp nặng, người bệnh có thể phải thở bằng máy.

Đau ngực: Thở dốc kèm theo ho dễ làm cho bệnh nhân viêm phổi cảm thấy mệt mỏi và đau ngực. Tình trạng này cộng thêm nhiễm trùng trong phổi có thể khiến cơn đau thêm dữ dội. Một số trường hợp viêm phổi có thể dẫn đến đau tim.

Ở trẻ bị viêm phổi thường gặp các triệu chứng thở nhanh, đây là dấu hiệu có giá trị chẩn đoán viêm phổi cao nhất. Theo tiêu chuẩn của WHO, trẻ dưới 5 tuổi thở nhanh như sau: nhịp thở từ 60 lần/phút trở lên đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi; nhịp thở từ 50 lần/phút trở lên đối với trẻ 2 tháng – 12 tháng tuổi; nhịp thở từ 40 lần/phút trở lên đối với trẻ 1 – 5 tuổi. Cha mẹ hoặc người thân có thể đếm nhịp thở khi trẻ nằm yên hoặc khi ngủ và phải đếm trong 1 phút, muốn có kết quả chính xác thì đếm 2 – 3 lần. (nguồn: Vietnamnet)

Nếu trẻ bị viêm phổi nặng sẽ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực. Để phát hiện dấu hiệu này cần nhìn vào phần dưới lồng ngực (1/3 dưới) lõm vào khi trẻ hít vào. Chú ý rằng, khi chỉ thấy phần mềm giữa xương sườn hoặc vùng trên xương đòn rút lõm thì không phải là dấu hiệu rút lõm lồng ngực. Mặt khác ở trẻ dưới 2 tháng tuổi nếu chỉ rút lõm lồng ngực nhẹ thì chưa có giá trị phân loại.

Triệu chứng thường gặp ở trẻ nữa là sốt cao. Triệu chứng thở khò khè có thể ở trẻ lớn bị viêm phổi do Mycoplasma. Song triệu chứng này cũng dễ nhầm với bệnh hen nếu không chụp X-quang phổi. Những triệu chứng phập phồng cánh mũi, thở rên, bú kém, kích thích và các bất thường khi khám phổi thay đổi phụ thuộc vào tuổi bệnh nhi và mức độ nặng của bệnh.

Các triệu chứng như bỏ bú, thở rên, tím trung tâm có thể là những gợi ý của tình trạng thiếu oxy, nhưng các triệu chứng này không có độ nhạy và đặc hiệu cao. Vì vậy khi có điều kiện cần phải đo độ bão hoà oxy qua da cho bệnh nhi có biểu hiện suy hô hấp hoặc có vẻ bị bệnh nặng.

Viêm phổi rất nặng với các biểu hiện: Trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính là: tím tái, co giật, lơ mơ hoặc hôn mê; không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ; suy hô hấp nặng với biểu hiện đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, có thể có thêm một số triệu chứng khác gồm: thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực; nghe phổi có thể thấy giảm rì rào phế nang, tiếng thổi ống, ran ẩm nhỏ hạt; tiếng cọ màng phổi.

Việc chẩn đoán bệnh viêm phổi trẻ em cần dựa vào các triệu chứng lâm sàng nói trên và hình ảnh tổn thương trên phim chụp X-quang phổi. Căn cứ vào sự phân loại của Tổ chức Y tế thế giới đối với các mức độ viêm phổi gồm các thể: rất nặng, nặng và không nặng dựa vào các triệu chứng lâm sàng, thầy thuốc lâm sàng quyết định các biện pháp điều trị hỗ trợ như thở oxy, bù dịch và kháng sinh đặc hiệu.

Viêm phổi nặng: Trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính là: co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi; thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng) và không có các dấu hiệu chính của viêm phổi rất nặng. Ngoài ra, trẻ cũng có thể có thêm một số các triệu chứng khác đã mô tả ở phần viêm phổi rất nặng.

Viêm phổi không nặng: Trẻ có ho hoặc khó thở và khó thở nhanh, trẻ dưới 2 tháng: nhịp thở khoảng 60 lần/phút; trẻ từ 2-12 tháng: nhịp thở khoảng 50 lần/phút; trẻ từ 12 tháng – 5 tuổi: nhịp thở khoảng 40 lần/phút; nhưng không có một trong các triệu chứng chính của viêm phổi nặng hoặc rất nặng. Nghe phổi có thể thấy ran ẩm nhỏ hạt.

Nói chung, các dấu hiệu viêm phổi thường giống nhau dù có nguyên nhân khác nhau và bắt đầu tương tự như cảm hoặc cúm. Tiếp theo đó là: sốt, ho kèm theo mủ hoặc đàm xanh, thở nông và thở gấp, run và ớn lạnh, đau thắt ngực, tim đập nhanh, mệt và yếu sức, buồn nôn và nôn, tiêu chảy, đổ mồ hôi, đau cơ. Những triệu chứng này có thể ít nhiều khác biệt tùy theo từng dạng viêm phổi và tùy cá nhân. (nguồn: Người lao động)

Có thể bạn quan tâm

Jack và K-ICM hiện đang đứng đầu hạng mục Ngôi sao triển vọng

Từ những chàng thanh niên thích âm nhạc cuộc gặp định mệnh đã đưa Jack …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *